Bỏ qua để đến nội dung

Giống cao su và nhân giống: cơ cấu bộ giống, cây ghép và vườn ương

Cây cao su là cây công nghiệp dài ngày, một chu kỳ kéo dài 25-30 năm, nên một quyết định sai về giống sẽ “khóa” hiệu quả vườn cây suốt nhiều thập niên. Vì cao su gần như chỉ trồng bằng cây ghép (nhân giống vô tính), chất lượng cây giống và sự hợp lý của cơ cấu bộ giống quyết định trực tiếp đến năng suất mủ, khả năng cho gỗ và mức rủi ro bệnh - gió của cả vùng trồng. Bài viết này hệ thống lại cách hiểu về bộ giống, đặc tính các nhóm dòng vô tính và kỹ thuật nhân giống ghép đang được khuyến cáo ở ba vùng trồng chính: Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và Tây Bắc.

Cao su (Hevea brasiliensis) là cây giao phấn, nên cây mọc từ hạt sẽ phân ly mạnh: mỗi cây một kiểu hình, năng suất mủ chênh lệch lớn, vườn không đồng đều. Để giữ nguyên đặc tính tốt của cây mẹ ưu tú, người ta nhân giống vô tính bằng ghép: lấy mắt ghép (chứa mô phân sinh) của dòng vô tính đã được tuyển chọn ghép lên một gốc ghép thực sinh (mọc từ hạt). Nhờ đó, toàn bộ phần thân - tán cho mủ là bản sao di truyền (clone) của cây mẹ, trong khi bộ rễ vẫn khỏe và thích nghi tốt nhờ là cây thực sinh.

Một “dòng vô tính” (clone) vì thế là tập hợp các cây giống hệt nhau về di truyền. Khi nói tới năng suất, sinh trưởng hay tính chống chịu của một giống cao su, ta đang nói tới đặc tính của dòng vô tính đó.

Đặc tính cần quan tâm khi đánh giá một dòng vô tính

Phần tiêu đề “Đặc tính cần quan tâm khi đánh giá một dòng vô tính”

Không có dòng nào “hoàn hảo” mọi mặt; chọn giống là bài toán cân bằng. Khi đọc danh mục giống của Cục Trồng trọt hay khuyến cáo của Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam (RRIV) - Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, hãy đối chiếu các tiêu chí sau cho từng dòng:

  • Sản lượng mủ: tiềm năng năng suất và độ ổn định qua các năm cạo; phản ứng với chế độ cạo và kích thích.
  • Sinh trưởng: tốc độ tăng vanh thân giai đoạn kiến thiết cơ bản, quyết định thời gian đưa vườn vào cạo.
  • Khả năng cho gỗ: trữ lượng và chất lượng gỗ cuối chu kỳ - ngày càng quan trọng vì gỗ cao su là nguồn thu lớn khi thanh lý.
  • Chống chịu bệnh: đặc biệt bệnh rụng lá (héo đen đầu lá, phấn trắng, và những năm gần đây là bệnh rụng lá do nấm Pestalotiopsis), nấm hồng, loét sọc mặt cạo.
  • Chống chịu gió và rét: tính kháng đổ gãy do gió bão và khả năng chịu lạnh - yếu tố sống còn ở vùng cao và phía Bắc.

RRIV phân nhóm khuyến cáo theo mức độ tin cậy: nhóm dòng đã khẳng định cho trồng đại trà chiếm phần lớn diện tích, nhóm trồng quy mô vừa và nhóm trồng thử nghiệm chiếm tỷ lệ nhỏ hơn. Tỷ lệ này nhằm vừa khai thác giống tốt vừa hạn chế rủi ro khi mở rộng diện tích.

Nguyên tắc bố trí cơ cấu bộ giống theo vùng để phân tán rủi ro

Phần tiêu đề “Nguyên tắc bố trí cơ cấu bộ giống theo vùng để phân tán rủi ro”

Cơ cấu giống cao su giai đoạn 2022-2026, định hướng 2030 do RRIV/VRA ban hành tổ chức bộ giống thành ba bảng theo mức khuyến cáo: bảng giống trồng đại trà chiếm tỷ trọng cao nhất diện tích, bảng giống trồng quy mô vừa giới hạn ở mức thấp hơn, và bảng giống trồng thử nghiệm chỉ chiếm một phần nhỏ. Đây chính là cơ chế phân tán rủi ro: không “bỏ tất cả trứng vào một giỏ”.

Bộ giống còn được khuyến cáo riêng cho từng tiểu vùng. Tiêu chí phân tiểu vùng dựa trên ba yếu tố chính: hạng đất, lượng mưa (thuận lợi nhất khoảng 1.800-2.500 mm/năm) và áp lực bệnh. Tiểu vùng A là nơi cả ba yếu tố đều thuận lợi; tiểu vùng B, C có một hoặc nhiều yếu tố kém hơn. Vùng càng bất lợi, bộ giống càng phải nghiêng về tính an toàn (chống chịu) hơn là chạy theo năng suất tối đa.

  1. Đông Nam Bộ: vùng truyền thống, đất và khí hậu thuận lợi nhất. Ưu tiên các dòng năng suất mủ cao cho tiểu vùng A; với tiểu vùng nhiều gió hoặc áp lực bệnh lá cao, chuyển sang dòng có tính chống chịu tốt hơn dù năng suất nhỉnh thấp hơn.
  2. Tây Nguyên: phân hóa mạnh theo cao trình. Vùng cao trình cao cần dòng thích nghi với độ cao và lạnh hơn; cần đặc biệt lưu ý chọn dòng kháng gió vì địa hình lộng gió.
  3. Tây Bắc và miền núi phía Bắc: yếu tố giới hạn lớn nhất là rét hại và gió. Ở đây, tính chịu rét - chịu gió được đặt lên trên năng suất. Các nguồn chính thống (RRIV, báo chí trung ương) nêu những dòng được tuyển chọn theo hướng chịu lạnh như IAN 873, VNg 77-4, cùng một số dòng RRIM, RRIC, GT có khả năng chịu rét - chịu gió khá. Trong các vườn khảo nghiệm phía Bắc, IAN 873 được ghi nhận là một trong những dòng chịu lạnh tốt nhất bộ sưu tập.

Quan trọng: tên dòng và năm công nhận cụ thể thay đổi theo từng giai đoạn khuyến cáo. Hãy luôn tra cứu danh mục giống cây trồng được phép sản xuất - kinh doanh của Cục Trồng trọt và bản khuyến cáo cơ cấu giống mới nhất của RRIV - VRA, đối chiếu với Sở Nông nghiệp địa phương trước khi quyết định, thay vì dựa vào danh sách cũ.

Gốc ghép được tạo từ hạt cao su (thường gieo vào mùa hạt rụng, khoảng tháng 7-10). Hạt được gieo trên líp ươm hoặc trực tiếp vào bầu để nảy mầm, chăm sóc thành cây con khỏe, bộ rễ cọc tốt. Vườn ương phải gần nguồn nước, chủ động tưới, đất nhẹ thoát nước, làm sạch cỏ và phòng trừ sâu bệnh từ đầu. Gốc ghép được ghép khi đường kính thân tại vùng ghép đạt khoảng 8 mm trở lên - lúc vỏ “tượng tầng” hoạt động mạnh, dễ bóc và dễ liền mắt ghép.

Mắt ghép lấy từ vườn nhân gỗ ghép của đúng dòng vô tính cần nhân. Có hai kiểu theo độ tuổi cành: ghép mắt vỏ xanh (cành non) và ghép mắt vỏ nâu (cành đã hóa nâu). Kỹ thuật chung là mở cửa sổ vỏ trên gốc ghép, đặt mắt ghép áp khít tượng tầng, quấn băng cố định. Sau khoảng ba tuần thì mở băng kiểm tra; mắt sống có màu xanh tươi. Để mắt ổn định thêm rồi mới cắt ngọn gốc ghép phía trên mắt để dồn nhựa nuôi chồi ghép bật lên; vết cắt nên được bôi chất bảo vệ chống thối và mất nước.

Các dạng cây giống thành phẩm: tum trần, tum bầu, bầu có tầng lá

Phần tiêu đề “Các dạng cây giống thành phẩm: tum trần, tum bầu, bầu có tầng lá”

Từ cây đã ghép, có thể tạo ra nhiều dạng cây giống (“stump” trong tài liệu nước ngoài, ta quen gọi là tum):

  • Tum trần (stump trần): nhổ cây ghép, cắt bớt rễ và thân, để rễ trần đem trồng. Gọn, rẻ vận chuyển nhưng tỷ lệ sống phụ thuộc nhiều vào kỹ thuật và thời vụ.
  • Tum bầu: tum được đưa vào bầu chăm thêm để ổn định rồi mới trồng, an toàn hơn tum trần.
  • Bầu có tầng lá (bầu ghép có tầng lá ổn định): cây ghép trong bầu được nuôi đến khi có 1-3 tầng lá đã ổn định mới đem trồng. Đây là dạng cho tỷ lệ sống cao và vườn đồng đều nhất, dù chi phí và công vận chuyển cao hơn.

Nguyên tắc chung: cây càng được nuôi đến trạng thái sinh lý ổn định (tầng lá đã thành thục) thì trồng càng an toàn; thời gian từ khi cắt ngọn/xuất vườn đến khi trồng càng ngắn càng tốt để tránh khô bầu, mất sức.

Vườn nhân gỗ ghép và vườn ương sạch bệnh

Phần tiêu đề “Vườn nhân gỗ ghép và vườn ương sạch bệnh”

Vườn nhân gỗ ghép là “ngân hàng mắt ghép” - nơi trồng thuần từng dòng vô tính với mật độ dày, hàng cách hàng khoảng 1 m và cây cách cây khoảng 0,4 m, để liên tục cung cấp cành gỗ ghép. Cây được tỉa chồi tạo hình, chỉ chừa số chồi nhất định mỗi gốc để cành mập, nhiều mắt hữu hiệu. Cành đạt chuẩn thường có khoảng từ mười mắt hữu hiệu trở lên trên mỗi mét cành, vỏ dễ bóc; nên cắt cành lúc trời mát. Một vườn nhân gỗ ghép có thể khai thác nhiều năm và được làm trẻ lại bằng cưa định hình, cưa phục hồi.

Hai yêu cầu cốt lõi của cả vườn nhân gỗ ghép lẫn vườn ương là đúng giốngsạch bệnh: nguồn mắt phải truy xuất được tới cây đầu dòng/vườn nhân đã kiểm định để không lẫn dòng; đồng thời quản lý chặt sâu bệnh (đặc biệt các bệnh lá) để không phát tán mầm bệnh theo cây giống ra đại trà. Với thuốc bảo vệ thực vật, áp dụng nguyên tắc “4 đúng”, ưu tiên IPM - biện pháp canh tác - sinh học, chỉ tham khảo nhóm hoạt chất theo khuyến cáo và tuân thủ nhãn thuốc cùng hướng dẫn của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật; không tự ý dùng liều - nồng độ ngoài nhãn.

Lưu ý và sai lầm thường gặp ở Việt Nam

Phần tiêu đề “Lưu ý và sai lầm thường gặp ở Việt Nam”
  • Mua giống trôi nổi, không rõ nguồn gốc: rủi ro lẫn dòng, sai giống và mang mầm bệnh; nên mua ở cơ sở có chứng nhận, có hồ sơ truy xuất tới vườn nhân gỗ ghép.
  • Trồng độc canh một dòng trên diện rộng: dễ “vỡ trận” khi xuất hiện dịch bệnh hoặc gió bão. Hãy đa dạng hóa theo cơ cấu bộ giống khuyến cáo.
  • Bê nguyên bộ giống Đông Nam Bộ lên vùng cao/phía Bắc: bỏ qua yếu tố rét - gió, dẫn tới thiệt hại nặng. Vùng lạnh phải ưu tiên dòng chịu rét - chịu gió.
  • Chỉ nhìn năng suất mủ, quên gỗ và tính chống chịu: chu kỳ dài nên bài toán phải tính cả gỗ cuối kỳ và mức an toàn dịch hại - thời tiết.
  • Dùng cây giống chưa đủ tầng lá ổn định hoặc để khô bầu khi vận chuyển: làm tỷ lệ sống thấp, vườn không đồng đều ngay từ năm đầu.
  • Tin vào mã giống và năm công nhận nghe truyền miệng: luôn đối chiếu danh mục giống của Cục Trồng trọt và khuyến cáo RRIV - VRA bản mới nhất.

Quản lý giống cao su là chuỗi dữ liệu dài: từ cây đầu dòng, vườn nhân gỗ ghép, lô cây giống xuất vườn cho tới từng lô trồng ngoài đồng. Nền tảng Agrione của BSD Insight giúp số hóa nhật ký canh tác và hồ sơ lô giống, truy xuất nguồn gốc cây giống (dòng vô tính, vườn nhân, ngày ghép, ngày trồng), đồng thời quản lý chi phí - vật tư của vườn ương và vườn nhân gỗ ghép. Nhờ đó nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp nắm rõ “lô cây này là dòng nào, từ nguồn nào”, bố trí cơ cấu bộ giống theo vùng một cách minh bạch và kiểm soát được rủi ro qua suốt chu kỳ vườn cây.

Chia sẻ: