Bỏ qua để đến nội dung

Thu hoạch và sơ chế hồ tiêu: tiêu đen, tiêu trắng và bảo quản đạt chuẩn xuất khẩu

Với cây hồ tiêu ở Tây Nguyên và Đông Nam Bộ, chất lượng và giá bán không chỉ quyết định ở vườn cây mà phần lớn nằm ở khâu thu hoạch và sơ chế. Cùng một vườn tiêu, nếu hái đúng độ chín, phơi sấy đạt ẩm độ và bảo quản kín thì hạt chắc, màu đẹp, không mốc mọt và đáp ứng được yêu cầu khắt khe của thị trường xuất khẩu; ngược lại, hái non, phơi ẩu hay trữ trong bao hút ẩm có thể làm tụt cấp cả lô hàng. Bài viết tổng hợp nguyên tắc kỹ thuật thực hành theo hướng dẫn của các viện, chi cục và tiêu chuẩn ngành để bà con và hợp tác xã làm chủ được khâu sau thu hoạch.

Xác định thời điểm và độ chín thu hoạch theo mục tiêu sản phẩm

Phần tiêu đề “Xác định thời điểm và độ chín thu hoạch theo mục tiêu sản phẩm”

Nguyên tắc cốt lõi: quyết định độ chín khi thu hái phải xuất phát từ sản phẩm cuối mà bạn muốn làm (tiêu đen, tiêu trắng hay tiêu chín). Thu non làm hạt lép, nhẹ, dung trọng thấp; để quá chín thì rụng nhiều, hao hụt và dễ nhiễm nấm ngay trên cây. Theo hướng dẫn kỹ thuật của các cơ quan chuyên môn:

  • Làm tiêu đen: thu hái khi trên chùm đã có khoảng trên 5% quả chuyển màu vàng hoặc đỏ (quả chín tới). Đây là thời điểm hạt đã tích lũy đủ chất khô nhưng phần lớn còn xanh để khi phơi vỏ co lại, nhăn đều và đen bóng.
  • Làm tiêu trắng (tiêu sọ): cần quả chín nhiều hơn để dễ tách vỏ và cho nhân trắng. Tài liệu khuyến nông khuyến cáo thu khi chùm đạt trên 20% quả chín; một số quy trình chọn riêng những chùm có tỷ lệ quả đỏ cao hơn nữa để ngâm tách vỏ.

Ở Tây Nguyên, vụ thu hoạch thường rộ vào khoảng tháng 2 đến tháng 4, sớm muộn tùy tiểu vùng và giống. Nên thu rộ ở những vườn đã đạt tỷ lệ chín cao, hái dứt điểm từng trụ để hạn chế phải hái đi hái lại nhiều đợt. Về giống, bà con nên tham khảo danh mục giống được công nhận của Cục Trồng trọt và khuyến cáo của Sở Nông nghiệp địa phương thay vì chạy theo tên giống trôi nổi.

  • Hái cả chùm, tuốt nhẹ tay, tránh làm gãy cành ác và rụng lá, giữ sức cây cho vụ sau.
  • Dùng thang, giàn hái chắc chắn, bảo đảm an toàn lao động khi với cao trên trụ.
  • Hứng vào bạt, sọt sạch; không để chùm tiêu tiếp đất nhằm tránh lẫn đất đá, vi sinh vật và tạp chất.
  • Loại bỏ ngay lá, cuống, cành vụn và chùm sâu bệnh để giảm công làm sạch về sau.

Tiêu đen là dạng chế biến phổ biến và đơn giản nhất, nhưng vẫn cần đúng kỹ thuật để đạt màu và độ chắc:

  1. Ủ ngắn cho chín đều: sau thu hái có thể gom đống, ủ trong mát khoảng 1–2 ngày để quả tiếp tục chín và lên màu đồng đều; cách này giúp vỏ nhăn đẹp hơn khi phơi. Không ủ đống quá dày, quá lâu gây bốc nóng, lên men và mốc.
  2. Tách hạt: tuốt tách hạt khỏi cuống sau khi phơi sơ (khoảng nửa nắng đến một nắng) để dễ làm và đỡ gãy nát; hoặc tuốt bằng máy tách chuyên dụng.
  3. Phơi nắng: trải hạt trên sân xi măng, nhà lưới phơi hoặc bạt PP đặt nơi bằng phẳng, sạch. Nắng tốt thường phơi 3–4 ngày là đạt; đảo đều nhiều lần trong ngày, che đậy khi mưa và ban đêm để hạt không hút ẩm lại.
  4. Sấy khi thiếu nắng: vào lúc trời âm u hoặc cuối vụ mưa, dùng lò/máy sấy giữ nhiệt độ khoảng 55–60°C. Không sấy nhiệt quá cao làm hạt chai, mất hương và sạm màu không tự nhiên.

Chế biến tiêu trắng và tiêu sọ: ngâm, tách vỏ quả chín

Phần tiêu đề “Chế biến tiêu trắng và tiêu sọ: ngâm, tách vỏ quả chín”

Tiêu trắng (tiêu sọ) là phần nhân bên trong sau khi loại bỏ lớp vỏ quả, có giá trị cao hơn nên đòi hỏi nguyên liệu chín và quy trình ngâm tách kỹ. Có hai hướng làm:

  • Chọn quả chín, ngâm trong nước sạch khoảng 2–3 ngày cho vỏ mềm, sau đó chà xát tách vỏ bằng máy hoặc thủ công, rồi rửa sạch lớp vỏ và thịt quả.
  • Nhân thu được đem phơi/sấy đến khô; thao tác rửa kỹ và thay nước thường xuyên là yếu tố quyết định độ trắng và mùi sạch.

Theo giới thiệu quy trình của Viện Khoa học Kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Tây Nguyên (WASI), có thể sản xuất tiêu trắng từ tiêu đen đã làm khô bằng cách:

  • Chọn nguyên liệu hạt to, chắc (cỡ hạt và dung trọng cao), sàng loại hạt lép.
  • Ngâm ủ lên men để bong vỏ: với quy mô nhỏ có thể cho vào bao đay, ngâm chìm trong nước khoảng 10–12 ngày, thay nước để hạn chế mùi; quy mô lớn dùng enzyme chuyên dụng rút ngắn thời gian.
  • Xát tách vỏ, làm sạch và làm trắng, sau đó sấy ở nhiệt độ không quá 65°C, thời gian sấy không kéo dài quá mức để giữ chất lượng; sản phẩm đạt độ ẩm dưới 13% (cơ sở ướt) và dung trọng cao.

Lưu ý: khâu ngâm lên men phát sinh nước thải có mùi; cần bố trí khu ngâm hợp vệ sinh, xa nguồn nước sinh hoạt và xử lý nước thải để tránh ô nhiễm và nhiễm chéo vi sinh lên sản phẩm.

Phơi sấy đạt độ ẩm bảo quản an toàn

Phần tiêu đề “Phơi sấy đạt độ ẩm bảo quản an toàn”

Độ ẩm là chỉ tiêu sống còn để chống mốc và bảo quản lâu. Các mốc tham chiếu chính thống:

  • TCVN 7036:2008 (hạt tiêu đen): độ ẩm tối đa khoảng 13,0% với tiêu chưa chế biến/bán chế biến và khoảng 12,5% với tiêu đã chế biến (theo bảng chỉ tiêu của tiêu chuẩn).
  • Tiêu chuẩn Codex CXS 326-2017 cho tiêu đen, trắng, xanh quy định độ ẩm tối đa 12% (m/m) — mốc thường được nhà nhập khẩu tham chiếu.
  • Khuyến cáo thực hành tại hiện trường (ví dụ của Chi cục Phát triển Nông nghiệp Đắk Nông trên báo địa phương) là phơi đến khi độ ẩm hạt đạt dưới 14%, hướng về khoảng an toàn 12–13%.

Thực tế, nên phấn đấu đưa hạt về quanh 12–13% để vừa đạt chuẩn vừa có biên an toàn khi vận chuyển và lưu kho. Nếu có điều kiện, dùng máy đo độ ẩm để kiểm tra thay vì ước lượng bằng cảm quan (cắn thử, nghe tiếng). Hạt đạt ẩm thường cứng, lắc nghe rời, vỏ nhăn đều.

Sau khi khô, lô tiêu cần được làm sạch và phân cấp để đạt giá tốt và đáp ứng tiêu chuẩn:

  • Quạt, sàng: loại bụi, cuống, lá vụn, hạt lép và tạp chất nhẹ; nhặt tạp vật cứng (đá, kim loại) còn sót.
  • Phân loại theo dung trọng và cỡ hạt: TCVN 7036:2008 phân hạng tiêu đen theo khối lượng theo thể tích (dung trọng), ví dụ hạng đặc biệt yêu cầu từ khoảng 600 g/l trở lên, các hạng thấp hơn có ngưỡng dung trọng giảm dần; đồng thời giới hạn tỷ lệ hạt lép, hạt vỡ/đầu đinh và tạp chất lạ theo từng hạng.
  • Kiểm soát tạp chất: tiêu chuẩn giới hạn tạp chất lạ ở mức rất thấp với hàng đã chế biến; làm sạch tốt ngay từ sân phơi sẽ giảm chi phí xử lý về sau.

Với hàng hướng xuất khẩu, ngoài làm sạch cơ học, các cơ sở chế biến sâu thường bổ sung các công đoạn xử lý theo yêu cầu khách hàng để bảo đảm chỉ tiêu vi sinh và an toàn thực phẩm.

Bảo quản chống ẩm mốc, mọt và tồn dư

Phần tiêu đề “Bảo quản chống ẩm mốc, mọt và tồn dư”
  • Đóng bao hai lớp: lớp trong là túi PE/ni lông để chống hút ẩm trở lại, lớp ngoài là bao PP hoặc bao vải; bao bì phải mới, khô, sạch, không mùi lạ theo yêu cầu của TCVN và khuyến cáo của hiệp hội ngành hàng.
  • Kê kệ, cách sàn cách tường: không để bao tiếp xúc trực tiếp nền và vách kho; kho khô ráo, thông thoáng.
  • Cách ly hóa chất: tuyệt đối không trữ tiêu chung với phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, xăng dầu hay vật có mùi mạnh vì hạt tiêu dễ hấp phụ mùi và nguy cơ nhiễm tồn dư.
  • Theo dõi định kỳ: kiểm tra mọt, mốc, độ ẩm; phát hiện sớm để phơi/sấy lại hoặc tách lô.

Hướng tới an toàn thực phẩm và không tồn dư phục vụ xuất khẩu

Phần tiêu đề “Hướng tới an toàn thực phẩm và không tồn dư phục vụ xuất khẩu”

Các thị trường lớn, đặc biệt là EU, liên tục siết chặt mức dư lượng tối đa (MRL) đối với hồ tiêu và cây gia vị, đồng thời tăng yêu cầu truy xuất nguồn gốc. Theo phản ánh của báo chí và khuyến nghị từ Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), doanh nghiệp và vùng nguyên liệu cần chủ động rà soát danh mục hoạt chất sử dụng và kiểm soát chặt một số nhóm hoạt chất đang bị hạ ngưỡng MRL. Để giảm rủi ro tồn dư ngay từ vườn:

  • Ưu tiên quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), biện pháp canh tác và sinh học; chỉ dùng thuốc bảo vệ thực vật khi cần và theo nguyên tắc “4 đúng” (đúng thuốc, đúng liều/nồng độ, đúng lúc, đúng cách).
  • Tuân thủ nhãn thuốc và đặc biệt là thời gian cách ly trước thu hoạch; tham vấn khuyến cáo của Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật địa phương về nhóm hoạt chất phù hợp với tiêu chuẩn thị trường đích.
  • Ghi chép đầy đủ nhật ký vật tư, ngày phun, ngày thu hoạch để phục vụ truy xuất và chứng nhận.
  • Tiếp cận các chứng nhận bền vững/an toàn (như chương trình canh tác có trách nhiệm, GAP) theo định hướng của ngành hàng để mở rộng cửa vào các chuỗi xuất khẩu.

Lưu ý và những sai lầm thường gặp ở Việt Nam

Phần tiêu đề “Lưu ý và những sai lầm thường gặp ở Việt Nam”
  • Hái đồng loạt khi quả còn quá xanh: được sản lượng tươi nhưng hạt nhẹ, dung trọng thấp, tụt cấp khi phân loại.
  • Phơi trực tiếp trên nền đất, lề đường: lẫn đất đá, bụi, nguy cơ nhiễm vi sinh và kim loại; nên phơi trên sân sạch hoặc bạt PP.
  • Đánh giá độ ẩm bằng cảm quan rồi đóng bao sớm: hạt chưa đạt ẩm vẫn còn “ấm” sẽ đổ mồ hôi trong bao, dẫn tới mốc; nên đo độ ẩm và để nguội trước khi đóng.
  • Dùng lại bao cũ, bao từng đựng phân/hóa chất: gây nhiễm mùi và tồn dư, rủi ro cao khi kiểm nghiệm xuất khẩu.
  • Ủ đống dày, lâu để “cho chín”: dễ lên men, bốc nóng, nấm mốc và mất hương.
  • Trữ tiêu gần kho vật tư nông nghiệp: nguồn nhiễm chéo tồn dư thường bị bỏ qua.

BSD Insight – Agrione đồng hành số hóa khâu sau thu hoạch

Phần tiêu đề “BSD Insight – Agrione đồng hành số hóa khâu sau thu hoạch”

Để làm chủ chuỗi thu hoạch – sơ chế – bảo quản theo chuẩn xuất khẩu, dữ liệu phải đi cùng từng lô hàng. Nền tảng Agrione của BSD Insight hỗ trợ hợp tác xã và doanh nghiệp số hóa nhật ký canh tác (ngày phun thuốc, thời gian cách ly, ngày thu hoạch), quản lý chi phí và vật tư, ghi nhận thông số sơ chế như độ ẩm, mẻ phơi/sấy và phân loại theo lô; từ đó tạo hồ sơ truy xuất nguồn gốc minh bạch phục vụ kiểm soát tồn dư và yêu cầu của thị trường. Khi mọi công đoạn được ghi nhận và liên kết, người trồng tiêu Việt không chỉ bán được giá tốt hơn mà còn vững vàng trước các rào cản kỹ thuật ngày càng cao.

Chia sẻ: